Tạo cơ sở pháp lý vững chắc để người dân tham gia vào giám sát xả lũ hồ thuỷ điện A Vương

Đơn vị nhận tài trợ: Viện Nghiên cứu Kinh tế Xây dựng và Đô Thị

Địa bàn: Huyện Đông Giang, Tỉnh Quảng Nam

Thời gian triển khai: Tháng 9/2014- tháng 8/2015


Người dân vùng lưu vực và hạ lưu sông Vu Gia – Thu Bồn đã nhiều năm phải chống chọi với việc ngập lụt mùa lũ, thiếu nước sản xuất mùa cạn không phải chỉ bởi thiên tai mà do các nhà máy thuỷ điện trong khu vực này tuỳ tiện xả hay tích nước. Sau thiệt hại nghiêm trọng của người dân trong vùng do việc tùy tiện xả lũ năm 2009, để đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản và thiết thực phục vụ sản xuất , Nhà máy thuỷ điện A Vương đã có sáng kiến mời đại diện người dân vùng hạ du tham gia giám sát việc xả nước của nhà máy. Tuy trên thực tế thì cách làm vẫn mang tính hình thức và người dân chưa đóng vai trò chủ thể trong giám sát.

Viện Nghiên cứu Kinh tế Xây dựng và Đô Thị đã đề xuất nghiên cứu việc người dân cần phải tham gia giám sát quy trình xả lũ trong mùa mưa và tích nước trong mùa cạn của các hồ chứa thủy điện thế nào cho hiệu quả. Đây là một vấn đề mà cả người dân lẫn chính quyền địa phương đều quan tâm.

Trong quá trình triển khai, nghiên cứu đã thu thập và phân tích tài liệu cũng như ý kiến của gần 400 người dân sinh sống gần sông Vu Gia thuộc huyện Đại Lộc, và  các ý kiến từ 40 đại diện của năm nhóm đối tượng khác như tổ giám sát cộng đồng, cán bộ làm công tác quản lý tài nguyên và môi trường của tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng, chính quyền địa phương cấp xã và huyện Đại Lộc, doanh nghiệp thủy điện và chuyên gia cấp quốc gia.

Nghiên cứu đã phát hiện ra một số vấn đề liên quan tới giám sát cộng đồng trong vận hành hồ chứa và liên hồ chứa hiện nay ở lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn. Đó là việc giám sát theo mô hình của A Vương không thực sự hiệu quả vì mô hình giám sát là do bên bị giám sát đề xuất nên không khách quan, người dân chưa chủ động giám sát và thực sự tham gia; quy trình vận hành liên hồ chứa hiện tại còn nhiều lỗ hổng (chưa có quy trình vận hành liên hồ mùa cạn, không có thông số vận hành để giám sát), thiếu sự hợp tác của các bên, đặc biệt là bên bị giám sát và thiếu cơ sở pháp lý và nguồn lực cho công tác giám sát. Kết quả từ nghiên cứu cũng là cơ sở để Viện đưa ra khuyến nghị có tính đột phá là ban hành Quy chế giám sát cộng đồng trong vận hành hồ chứa và liên hồ chứa thủy điện không chỉ áp dụng ở khu vực này mà còn mang tinh pháp lý áp dụng cho toàn quốc. Ngoài ra Viện cũng khuyến nghị cần tăng cường năng lực cho bên giám sát, yêu cầu trách nhiệm đối với bên bị giám sát, và thiết lập tổ chức và thể chế để có nguồn lực phục vụ công tác giám sát.

Dự án đã góp phần nâng cao nhận thức về quyền và năng lực giám sát của cộng đồng. Họ hiểu hơn về quyền tham gia và có tiếng nói trong việc cân bằng lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp vàngười dân để có thể khai thác và sử dụng có hiệu quả và hài hòa nguồn tài nguyên nước và những lợi ích mà thủy điện đem lại. Việc này sẽ góp phần giảm thiểu tác hại nếu các hồ thủy điện xả lũ vào mùa mưa bão nhưng không xả nước cho nông nghiệp vào mùa cạn. Đặc biệt người dân cũng đã đóng góp vào dự thảo Quy chế giám sát của cộng đồng, hiện đã được hoàn thành và sắp được ban hành sau khi có sự góp ý của tất cả các bên tham gia, các nhà quản lý trung ương và địa phương, các luật gia.